Với vị thế “tựa sơn hướng thủy”, Đền Bến Dược nằm phía thượng nguồn sông Sài Gòn. Khác với vẻ lộng lẫy của những khối bê tông ở hạ nguồn, công trình này là sự kết tinh từ trái tim và trí tuệ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP.HCM cùng đội ngũ trí thức, nghệ nhân tâm huyết.
Được khởi công vào dịp 103 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1993), Đền Bến Dược mang sức nặng của lời tri ân. Đó là nơi hơn 45.000 người con từ khắp mọi miền ngã xuống vì nền độc lập của mảnh đất Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ.
Ấn tượng về kiến trúc của Đền Bến Dược không nằm ở sự đồ sộ, mà ở trục đường thẳng tắp, dẫn bước người thăm đi qua từng lớp không gian. Mỗi điểm dừng là một nấc cảm xúc của hành trình tưởng niệm: từ tam quan, nhà văn bia, đến tháp chín tầng, đền chính…
Từ cổng Tam quan, người viếng đi qua Nhà văn bia với khối đá Ngũ Hành Sơn nặng 3,7 tấn. Tại đây, bài văn tế Đời đời ghi nhớ của nhà thơ Viễn Phương khắc trên đá như lời nhắc nhở lặng lẽ: “Chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn – Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường?”.
Chính lời thơ ấy khiến bước chân chúng tôi chậm lại để suy ngẫm trước khi tiến sâu hơn vào trung tâm của khu tưởng niệm. Đường thẳng này không chỉ là lối đi của kiến trúc, mà còn là hành trình đi vào ký ức, nơi mỗi bước chân là một lần đối diện với sự hy sinh.
Vượt qua khoảng sân rộng là tòa tháp chín tầng cao 39 m vươn mình giữa khuôn viên Đền Bến Dược. Phóng mắt từ đỉnh tháp, ngôi đền nép mình bên dòng sông hiền hòa như chưa từng đi qua khói lửa. Nhờ kiến trúc mở, gió sông Sài Gòn có thể lồng lộng thổi vào từng ngóc ngách, giữ cho không gian luôn thông thoáng.
Bên cạnh đó là đền chính, được bố trí theo kiến trúc hình chữ U. Ở vị trí trung tâm là tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh; xung quanh là 3 mặt tường khắc 45.666 tên các anh hùng liệt sĩ. Hình chữ U như vòng tay lớn, bao bọc những người lính đã về với đất mẹ. Trong số đó, hơn 14.000 người con từ hàng chục tỉnh, thành khác đã nằm lại đất này.
Điểm kết của hành trình tưởng niệm là biểu tượng “Hồn thiêng đất nước” cao 16 m, nặng 243 tấn bằng đá granit. Ở khoảng cách gần, công trình mang dáng dấp giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhưng lùi ra xa, giọt nước mắt bỗng hóa thành ngọn bút sừng sững, kiên nhẫn viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc lên nền trời xanh thẳm Củ Chi.
“Làm sao để đưa hơn 45.000 cái tên vào 3 bức tường của đền chính, mà người đời sau vẫn đọc rõ từng quê quán, đơn vị?”.
Câu hỏi hóc búa đó đã theo kiến trúc sư Khương Văn Mười (nguyên Phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam) suốt những năm tháng thiết kế Đền Bến Dược, một công trình của những “lần đầu tiên”.
Trong ký ức của kiến trúc sư Khương Văn Mười, thiết kế Đền Bến Dược là hành trình vượt khó đúng nghĩa. Giữa lúc tư liệu về kiến trúc cổ miền Nam còn khan hiếm, vật liệu xây dựng thiếu thốn khi phải đặt tận Bình Dương, ông cùng các cộng sự đã phải “vừa vẽ, vừa mò mẫm” dưới sự góp ý sát sao của các bậc lão thành cách mạng.
“Lúc đó khó lắm, đền không thể làm quá to, mà chữ phải đủ lớn để đứng dưới nhìn lên vẫn đọc được. Nếu làm chữ lớn thì chỉ ghi được hơn chục ngàn tên là hết chỗ”, kiến trúc sư Khương Văn Mười chia sẻ.
Những ngày ấy, chiếc xe cũ của ông Mười gần như chạy liên tục giữa trung tâm thành phố và công trường. Đường xa, nhiên liệu thiếu, nhưng các cuộc thảo luận về việc đưa đất thiêng từ Điện Biên Phủ, Trường Sơn về hội tụ; về việc bố trí vị trí trang trọng nhất cho các mẹ Việt Nam anh hùng gần bàn thờ Bác Hồ thì chưa bao giờ dừng.
Cuối cùng, họ cũng tìm thấy câu trả lời cho bài toán hóc búa: thiết kế vách bia giật cấp 8 tầng. Thay vì một mặt phẳng gây ngộp, vách đá được chia thành các lớp so le chồng lên nhau. Cách làm này vừa giúp bao quát được tầm mắt, vừa tận dụng tối đa không gian sát trần nhà.
Chính lối xếp giật cấp này đã tạo ra hiệu ứng thị giác “vô tận”. Ở góc nghiêng, các tấm bia trông như những lớp sóng đá chạy dài hút mắt. Hệ thống đèn âm được giấu khéo léo ở các khe giật, rọi ngược từ dưới lên.
Lúc này, chúng tôi không thấy sự nặng nề của những bức tường đá, mà là hàng vạn đốm sáng như những vì sao đêm. Sự sắp xếp ấy buộc người ta phải ngước nhìn, tạo ra tâm thế cung kính tự nhiên.
Khi ngồi nhìn lại công trình mang tính bước ngoặt của đời mình, kiến trúc sư Khương Văn Mười chỉ có một nỗi nuối tiếc: “Hồi đó mải làm quá, gặp gỡ toàn những người nổi tiếng, những bậc tiền bối tâm huyết mà không chụp lại được tấm ảnh nào làm kỷ niệm”.
Nhưng có lẽ, nụ cười nghẹn ngào của những người ở lại khi nhìn tên người thân mình trên bia đá chính là “tấm ảnh” giá trị nhất mà ông Mười đã lưu giữ được.
Gần 30 năm, Đền Bến Dược vẫn nằm lặng lẽ giữa khu di tích anh hùng, ôm theo nghĩa tình sâu nặng được gửi gắm trong từng ý tứ của tiền nhân.
Không chỉ là nơi lưu giữ ký ức, nơi đây còn trở thành điểm chạm để những thế hệ hôm nay tìm về, lắng nghe và thấu hiểu quá khứ.
Cô Ngô Thị Đan Phượng, giáo viên Trường THCS Trần Huy Liệu, chia sẻ rằng đến tham quan và tìm hiểu Đền Bến Dược là dịp để các em học sinh chạm vào chiều sâu lịch sử.
“Tôi mong các em lắng lại để cảm nhận những mất mát, hy sinh của các anh hùng liệt sĩ. Từ đó, mỗi em sẽ tự soi lại mình, nhận ra trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo vệ và góp phần xây dựng đất nước hôm nay và mai sau”, cô Phượng nói.
Giờ đây, khi những chuyến xe buýt đường thủy đưa du khách ngược dòng Sài Gòn, Đền tưởng niệm Bến Dược không còn là điểm đến xa xôi. Ngôi đèn này đã trở thành một phần không thể tách rời trong mạch sống của TP.HCM.
Chiều 6.4, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, với 485/485 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội thông qua nghị quyết bầu ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, giữ chức Tổng Kiểm toán nhà nước nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Tổng Kiểm toán Nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026 là ông Ngô Văn Tuấn. Ông Ngô Văn Tuấn được bầu giữ chức vụ này từ 10.2022.
Ông Nguyễn Hữu Nghĩa 54 tuổi, quê Hà Nội, trình độ thạc sĩ Quản lý chính sách kinh tế, tiến sĩ Tài chính - Ngân hàng.
Ông Nghĩa từng có thời gian công tác và trải qua nhiều chức vụ tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tháng 5.2018, ông làm Vụ trưởng Vụ Kinh tế Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương. Đến tháng 1.2019, ông được Ban Bí thư bổ nhiệm giữ chức Phó trưởng ban Kinh tế Trung ương.
Tháng 1.2021, ông Nghĩa làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII; Bí thư Đảng ủy, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương.
Đến tháng 6.2021, Bộ Chính trị quyết định phân công, điều động, chỉ định ông tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Tháng 7.2025, ông Nghĩa tiếp tục làm Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên (mới) nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Đến tháng 10.2025, ông làm Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên nhiệm kỳ 2025 - 2030. Tháng 1.2026, ông làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Theo Hiến pháp, Kiểm toán Nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước, do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước do luật định.
Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Nhờ đất đai màu mỡ, địa thế bằng phẳng và nằm bên sông lớn, Đồng Nai trở thành lựa chọn ưu tiên của những nhóm người Việt đầu tiên vào phương Nam khai hoang, lập nghiệp. Các khu vực Biên Hòa, Long Thành, Bà Rịa... thuộc lưu vực sông Đồng Nai là những nơi sớm đón bước chân những người mở cõi.
Theo Gia Định Thành Thống Chí, năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu "vào kinh lược đất Đồng Nai", lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long dựng dinh Trấn Biên, Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, xác lập chủ quyền và bộ máy quản lý nhà nước, đặt nền móng cho sự hình thành vùng Biên Hòa - Đồng Nai ngày nay.
Những năm đầu khai mở, nhờ vị trí thuận lợi bên sông Đồng Nai thông ra biển Cần Giờ, vùng đất Biên Hòa sớm phát triển sầm uất thành đô thị nhộn nhịp. Trên cù lao Phố (nay thuộc phường Trấn Biên), Nông Nại đại phố từng được xem là một trong những thương cảng lớn nhất Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII.
Theo ông Trần Quang Toại, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Nai, truyền thống thương mại cùng giao lưu kinh tế, văn hóa hình thành rất sớm đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình đô thị hóa của địa phương ở các giai đoạn sau.
Đến năm 1808, dưới triều vua Gia Long, dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, trở thành một trong năm trấn thuộc Gia Định thành, với địa giới rộng lớn bao trùm phần lớn vùng đất thuộc Đồng Nai và TP HCM ngày nay. Trải qua nhiều biến động lịch sử và điều chỉnh địa giới, nơi đây vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc định hình không gian kinh tế - xã hội Nam Bộ.
Từ những tiền đề đó, các tuyến giao thông huyết mạch như đường thủy, quốc lộ, đường sắt dần được xây dựng qua Đồng Nai, kết nối Sài Gòn với duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
"Cù lao Phố vẫn còn nhiều dấu tích văn hóa, cho thấy Đồng Nai là cái nôi phát triển kinh tế - xã hội của Nam Bộ hơn 325 năm", ông Trần Quang Toại nói.
Theo ông, sau khi chiếm Nam Bộ, người Pháp bắt đầu khai thác tài nguyên với hàng loạt nông trường cao su, tập trung chủ yếu ở Đồng Nai. Từ nền kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp manh mún, người dân dần làm quen với máy móc qua các nhà máy chế biến mủ cao su, gỗ, từ đó hình thành lực lượng công nhân đông đảo, thu hút lao động từ nhiều nơi.
Ông Toại cho rằng vị trí giáp Sài Gòn, giao thông thuận lợi và nguồn lao động dồi dào là những yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhiều nhà máy trong thế kỷ XX, tiêu biểu khu kỹ nghệ Biên Hòa, được xem là khu công nghiệp đầu tiên của Việt Nam.
Từ khi xây dựng năm 1962 đến 1975, khu kỹ nghệ Biên Hòa có 94 nhà máy, xí nghiệp, với phần lớn máy móc nhập từ Nhật, Đức, Pháp, Đài Loan... Đến năm 1990, Đồng Nai thành lập Công ty Phát triển khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi Biên Hòa) để đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thu hút vốn nước ngoài.
Từ khu công nghiệp Biên Hòa, địa phương tiếp tục mở rộng hàng loạt khu công nghiệp lớn như Biên Hòa 2, Amata, Long Bình, Long Thành, Nhơn Trạch, Chơn Thành...
Với quy mô kinh tế lớn và cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ hiện đại, Đồng Nai từng bước khẳng định vị thế là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam và cả nước.
Hiện tỉnh nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về phát triển khu công nghiệp với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, tập trung tại Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành, Chơn Thành... Các khu này thu hút doanh nghiệp từ 45 quốc gia, với 2.269 dự án và tổng vốn đăng ký 44,38 tỷ USD.
Giai đoạn 2021-2025, kinh tế - xã hội Đồng Nai tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng cải thiện, tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm công nghiệp lớn của khu vực phía Nam.
Ông Nguyễn Văn Út, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, cho biết địa phương đang đứng trước thời cơ lịch sử để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm công nghiệp, logistics và đô thị hiện đại hàng đầu cả nước.
Theo ông, Đồng Nai có nền tảng công nghiệp vững chắc, vị trí chiến lược tại Đông Nam Bộ và hệ thống hạ tầng đang được đầu tư đồng bộ, nhất là các dự án động lực quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh không thể đi theo lối mòn cũ mà phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, cách làm và phương thức quản trị.
Lãnh đạo tỉnh cho biết Đồng Nai sẽ tập trung xây dựng mô hình phát triển mới, chuyển từ "tỉnh công nghiệp" sang "thành phố công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại", phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Phước Tuấn
Bài 3: Sân bay Long Thành sẽ 'nâng hạng' Đồng Nai ra sao